Xử lý nước thải luôn là vấn đề đáng quan tâm hiện nay, việc áp dụng các phương pháp xử lý nước thải theo nhiều cách khác nhau.

Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học được áp dụng ở giai đoạn đầu của quy trình xử lý, quá trình được xem như bước đệm để loại bỏ các tạp chất vô cơ và hữu cơ không tan hiện diện trong nước nhằm đảm bảo tính an toàn cho các thiết bị và các quá trình xử lý tiếp theo.

 

Tham khảo thêm: Quy trình xử lý nước thải

 

Tùy vào kích thước, tính chất hóa lý, hàm lượng cặn lơ lửng, lưu lượng nước thải và mức độ làm sạch mà ta sử dụng một trong các quá trình sau: lọc qua song chắn rác hoặc lưới chắn rác, lắng dưới tác dụng của lực ly tâm, trọng trường, lọc và tuyển nổi.

xử lý nước thải cơ học

Mục đích của xử lý nước thải phương pháp cơ học

– Tách các chất không hòa tan, những vật chất có kích thước lớn như nhánh cây, gỗ, nhựa, lá cây, giẻ rách, dầu mỡ… ra khỏi nước thải.

– Loại bỏ cặn nặng như sỏi, thủy tinh, cát…

– Điều hòa lưu lường và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải.

– Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các bước xử lý tiếp theo.

Quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học 

Song chắn rác

Song chắn rác gồm các thanh kim loại tiết diện chữ nhật hình tròn, hình chữ nhật hoặc hình bầu dục. Song chắn rác được chia làm 2 loại, loại di động và loại cố định. Song chắn rác được đặt nghiêng một góc 60 – 900 theo hướng dòng chảy. Song chắn rác nhằm chắn giữ các cặn bẩn có kích thước lớn ở dạng sợi: giấy, rau cỏ, rác…

song chắn rác

Lưới chắn rác:

Để khử các chất lơ lửng có kích thước nhỏ hoặc các sản phẩm có giá trị, thường sử dụng lưới lọc có kích thước lỗ từ 0,5 – 1mm. Khi tang trống quay, thường với vận tốc 0,1 đến 0,5 m/s, nước thải thường lọc qua bề mặt trong hay ngoài, tùy thuộc vào sự bố trí đường ống dẫn nước vào. Các vật thải được cào ra khỏi mặt lưới bằng hệ thống cào.

Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học là dùng bể điều hòa (Air tanks)

Duy trì dòng thải là điều hoà lưu lượng gần như không đổi, khắc phục những vấn đề vận hành do sự dao động lưu lượng nước thải gây ra và nâng cao hiệu suất của các quá trình ở cuối dây chuyền xử lý. Các kỹ thuật điều hoà được ứng dụng cho từng trường hợp phụ thuộc vào đặc tính của hệ thu gom nước thải. Các phương án bố trí bể điều hoá lưu lượng có thể là điều hoà trên dòng thải hay ngoài dòng thải xử lý.

Vị trí tốt nhất để bố trí bể điều hoà cần được xác định cụ thể cho từng hệ thống xử lý. Vì tính tối ưu của nó phụ thuộc vào loại xử lý, đặc tính của hệ thống thu gom và đặc tính của nước thải.

4. Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học là dùng bể lắng (clarifier)

Trong xử lý nước thải, quá trình lắng được sử dụng để loại các tạp chất ở dạng huyền phù thô ra khỏi nước. Sự lắng của các hạt xảy ra dưới tác dụng của trọng lực. Để tiến hành quá trình này người ta thường dùng các loại bể lắng khác nhau. Trong công nghệ xử lý nước thải, theo chức năng, các bể lắng được phân thành: bể lắng cát, bể lắng cấp 1 và bể lắng trong (cấp 2). Bể lắng 1 có nhiệm vụ tách các chất rắn hữu cơ (60%) và các chất rắn khác, còn bể lắng cấp 2 có nhiệm vụ tách bùn sinh học ra khỏi nước thải. Các bể lắng điều phải thoã mản yêu cầu: có hiệu suất lắng cao và xả bùn dễ dàng.

Tính chất lắng của các hạt được chia thành 3 dạng như sau:

Lắng dạng 1: lắng các hạt rời rạc. Quá trình lắng được đặt trưng bởi các hạt lắng rời rạc và tốc độ lắng không đổi. Các hạt lắng riêng lẻ không có khả năng keo tụ, không dính bám vào nhau suốt quá trình lắng. Để có thể xác định tốc độ lắng ở dạng này có thể ứng dụng định luật Newton và Stoke trên hạt cặn. Tốc độ lắng ở dạng này hoàn toàn có thể tính toán được.

Lắng dạng 2: lắng bông cặn. Quá trình lắng được đặt trưng bởi các hạt ( bông cặn) kết dính với nhau trong suốt quá trình lắng. Do quá trình bông cặn xảy ra tăng dần kích thước và tốc độ lắng tăng. Không có một công thức toán học thích hợp nào để biểu thị giá trị này. Vì vậy để có các thông số thiết kế về bể lắng dạng này, người ta thí nghiệm xác định tốc độ chảy tràn và thời gian lắng ở hiệu quả khử bông cặn cho trước từ cột lắng thí nghiệm, từ đó nhân với hệ số quy mô ta có tốc độ chảy tràn và thời gian lắng thiết kế.

Lắng dạng 3: lắng cản trở. Quá trình lắng được đặt trưng bởi các hạt cặn có nồng độ > 1000mg/l. Các hạt cặn không đổi vị trí, khi đó cả khối hạt như là một thể thống nhất lắng xuống.

Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học là dùng bể lọc (filter-bed)

Khái niệm

Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học bằng bể lọc là quá trình tách các chất lắng lơ lửng ra khỏi nước khi hỗn hợp nước và chất rắn lơ lửng đi qua lớp vật liệu lỗ ( lớp vật liệu lọc), chất rắn lơ lửng sẽ được giữ lại và nước tiếp tục chảy qua. Đây là giai đoạn (công trình) cuối cùng để làm trong nước.

Phân loại bể lọc:

Theo tốc độ:

+ Bể lọc chậm: có tốc độ lọc 0.1 – 0.5 m/h

+ Bể lọc nhanh: có vận tốc lọc 5 –15 m/h

+ Bể lọc cao tốc: vận tốc lọc 36 –100 m/h

– Theo chế độ làm việc:

+ Bể lọc trọng lực: hở, không áp.

+ Bể lọc có áp lực.

Ngoài ra bê lọc còn được chia theo nhiều cách khác nhau theo chiều dòng chảy, lớp vật liệu lọc, theo cỡ hạt vật liệu lọc, cấu tạo hạt vật liệu lọc,…

Vật liệu lọc

– Cát thạch anh nghiền.

– Than antraxit (than gầy)

– Sỏi, đá…

– Polime…

Để xác định vật liệu lọc phải dựa vào một số chỉ tiêu:

– Độ bền cơ học

– Độ bền hoá học: tránh tính xâm thực.

– Kích thước hạt

– Hình dạng hạt.

– Hệ số không đồng nhất:K= d80/d10 (Trong đó: d80, d10 : kích thước cỡ hạt sang để lọt qua 80%, 10% tổng số hạt).

Ngoài ra, Công nghệ Met được áp dụng trong xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học rất hiệu quả. Đây là công nghệ hàng đầu về xử lý nước, đã đạt được nhiều giải thưởng trên thế giới, được các chuyên gia cùng ngành chứng nhận chất lượng tốt.

xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học

Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học sẽ giúp quá trình xử lý nước thải tiếp theo được dễ dàng hơn. Hãy cùng với công nghệ xử lý nước Met bảo vệ nguồn nước luôn được an toàn không bị ô nhiễm.

Summary
Review Date
Reviewed Item
Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học
Author Rating
51star1star1star1star1star