Tồng quan về nghành xi mạ

– Hiện nay, công nghiệp xi mạ đã trở thành một trong những nghành phát triển mạnh mẽ trên thế giới nói chung. Riêng ở Việt Nam, các nghành công nghiệp phụ trợ đang được chú trọng đầu tư phát triển, trong đó có nghành công nghiệp gia công, sơn kim loại, hay gọi là công nghiệp xi mạ.
– Mạ kim loại là hình thức phổ biến trong công nghiệp mạ, vì đa số các sản phẩm kim loại đều cần phải có lớp bề mặt bảo vệ, tính thẩm mỹ và đảm bảo chất lượng cho sản phẩm. Công nghệ ngành xi mạ có các hình thức mạ khác nhau như: mạ điện, mạ hóa học, mạ nhúng nóng.

– Mạ điện: là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Mạ điện là quá trình điện hóa cực catôt. Bề mặt kim loại làm catôt trong một bình điện phân dùng nguồn điện 1 chiều từ bên ngoài, dung dịch mạ là anôt chứa các ion kim loại cần mạ. Các ion kim loại này tham gia phản ứng catot và bị khử điện hóa thành kim loại điện kết tủa lên trên bề mặt cần xử lý.
– Mạ hóa học: là phương pháp dựa trên cơ sở khử hóa học, ion kim loại được khử thành kim loại từ dung dịch muối của nó bằng các chất khử. Điện tử cần thiết cho quá trình khử được cung cấp bởi các chất khử hóa học. Ví dụ: Mạ Niken, natri hypophosphit được dùng làm tác nhân khử. Quá trình sẽ có những phản ứng sau
H2PO2- + H2O à H2PO3- + 2H+ + 2e

– Mạ nhúng nóng: là quá trình mà trong đó vật liệu cần mạ đi qua bể chứa kim loại (kim loại nguyên chất), bể này được nấu nóng chảy ở nhiệt độ cao, kết quả là kim loại mạ sẽ bám trên bề mặt vật liệu cần mạ.
Công nghiệp xi mạ phân ra các loại mạ tùy theo kim loại được mạ:
– Mạ Crom: Được sử dụng nhiều trong công nghệ mạ ô tô, mạ chi tiết máy, dụng cụ y tế, phụ tùng máy móc, lớp mạ có tính ổn định hóa học, tính chịu mòn cao, bề mặt đẹp, khả năng phản xạ ánh sáng tốt.
– Mạ Kẽm: Thường ứng dụng mạ kẽm để đề phòng ăn mòn kim loại, được gọi là mạ bảo vệ. Lớp mạ có tính đàn hồi tốt nhưng độ cứng thấp, độ bóng kém, dễ tạo thành muối cacbonat nên nhanh mờ. Dung dịch mạ kẽm có hai loại là: dung dịch mạ kẽm có xianua ( CN) và dung dịch mạ kẽm ko có CN.
– Mạ Nikel: Mạ Nikel là kỹ thuật quan trọng và được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, được ứng dụng để trang trí, làm tăng khả năng chịu mòn, tăng độ cứng của bề mặt. Đễ nâng tính hiệu quả bảo vệ – trang trí người ta thường mạ hai lớp là Nikel – Crom hoặc Đồng – Nikel – Crom.
Mạ hợp kim: Trong dung dịch đồng thời có 2 cation để cùng bám lên bề mặt kim loại cần mạ.

– Nước thải ngành xi mạ có pH dao động rất lớn có thể dưới <3( nước thải axit) và >9 ( nước thải bazo), đặc trưng của nước thải xi mạ là chứa hàm lượng cao các chất muối vô cơ và kim loại nặng. Tùy theo kim loại của lớp mạ mà nguồn ô nhiễm có thể là Cu, Zn, Cr, Ni….và cũng tùy theo các loại muối kim loại đang được sử dụng mà nước thải có thế chứa các độc tố như xyanua, sunfat, amoni,…. Các chất hữu cơ ít có trong nước thải xi mạ, phần chủ yếu là chất tạo bông, chất hoạt động bề mặt, vì nồng độ các chất hữu cơ, BOD, COD thấp, nên nó không thuộc đối tượng xử lý mà chỉ chú trọng xử lý các ion và các muối kim loại.
– Đặc trưng của nước thải từ quá trình sản xuất xi mạ là có chứa nhiều kim loại nặng nên ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường và mang tính chất lâu dài, hệ lụy về sau vì nếu không được xử lý đúng cách, các ion kim loại, muối, hợp chất khác khi được thải ra môi trường không bị phân hủy mà sẽ tồn tại, tích tụ trong môi trường thiên nhiên.

Nước thải loại này có thế tiêu diệt các sinh vật phù du, gây ngộ độc, gây bệnh cho các động vật thủy sinh, đặc biệt là cá(một trong những mắt xích trong chuỗi thức ăn mà con người tham gia), từ đó gây các bệnh nguy hiểm cho con người. Quá trình đó gọi là tích tụ sinh học, các chất độc có nguồn gốc từ các kim loại, được phát sinh ra môi trường, tích tụ dần trong các động vật thủy sinh trong thời gian dài, theo nhiều chuỗi thức ăn, ảnh hưởng tới con người. Vì vậy cần phải có hệ thống xử lý nước thải nghành xi mạ, tách các ion kim loại trước khi xả ra môi trường, đảm bảo quy chuẩn quy định ở Việt Nam.

Giải pháp ứng dụng Công nghệ xử lý nước thải ngành xi mạ

Nước thải nghành xi mạ không chứa nhiều các chất hữu cơ khó phân hủy. Vì vậy xử lý nước thải xị mạ chủ yếu dùng các phương pháp cơ học, hóa học, hóa lý.

Ưu điểm công nghệ xử lý nước thải MET

– Sử dụng năng lượng cơ học để lọc nước nên không tốn điện năng.
– Loại bỏ hoàn toàn các chất rắn lơ lửng và các chất độc (như asen, phèn, sắt,…), chất khí như mêtan, hydro sulfur, amoni.
– Sau khi xử lý, nước thải tiêu chuẩn quy định của Bộ Y tế (QCVN 01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT). QCVN 14:2008/BTNM và QCVN 40:2011/BTNMT của Bộ TN&MT.
– Sử dụng rất ít tốn diện tích.
– Hệ thống hoạt động ổn định, công suất lớn.Tuổi thọ của hệ thống lên đến hơn 20 năm.
– Lắp đặt, bảo trì, bảo dưỡng đơn giản, ít thời gian và công sức.

Công nghệ xử lý nước thải MET là lựa chọn số 1 hiện nay

Công nghệ MET đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng chứng nhận sáng chế độc quyền. Vinh dự nhận được rất nhiều bằng sáng chế của các tổ chức quốc tế khác. Huy chương bạc tại Cuộc thi Japan Design, Idea & Invention Expo (Nhật Bản) năm 2018. Huy chương vàng về công nghệ xử lý nước thải công nghiệp tại Hội chợ Kaohsiung International Invention & Design Expo 2018 (Đài Loan). Huy chương vàng Cuộc thi Giải pháp công nghệ toàn cầu iCAN 2017 (Canađa). Giải Sáng tạo Cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo phụ nữ và tương lai của nền kinh tế xanh (Việt Nam)…

Công nghệ xử lý nước thải MET số 1 hiện nay

Nguyên lý công nghệ MET

– Khi nước đủ vận tốc dòng chảy qua van hơi tự do, qua nhiều ống tạo tia định sẵn. Tách phần tia riêng gây ôxy dao động hỗn hợp bị tuần hoàn ngược.
– Nhờ áp suất trong máy đẩy các thành phần nặng hơn nước ra ngoài. Gặp nguyên liệu cát bị ôxy hóa nhanh tạo ra màng. Phần nước còn lại rơi tự do trong máy nhưng vẫn đủ để vận hành liên hoàn. Phần ra nhanh hay chậm đều tạo ra lớp màng. Lớp nọ kế tiếp lớp kia để tạo nên màng lõi lọc tự nhiên do tạp chất hình thành.
– Sau khi nước thải từ bể sơ cấp chảy qua bể thứ cấp sẽ được lọc thô nhờ một màng lọc tự nhiên. Sau đó chạy vào hệ thống xử lý của máy. Nhờ cấu tạo đặc biệt cũng như công nghệ thiết kế được tính toán kỹ càng. Nước chịu tác động của lực đẩy, lực nén, lực hút, lực xuyên tâm. Nhờ vậy loại bỏ được tạp chấp vốn bị tích tụ trong nước.